Categories

Gore Verbinski

Gore Verbinski
38 ngôn ngữ العربية Aragonés Bosanski Български Català Čeština Dansk Deutsch English Español فارسی Français 한국어 Հայերեն हिन्दी Hrvatski Italiano עברית Magyar Malagasy مصرى Nederlands 日本語 Norsk bokmål Polski Português Română Русский සිංහල Српски / srpski Srpskohrvatski / српскохрватски Suomi Svenska ไทย Тоҷикӣ Türkçe Українська 中文 Sửa liên kết Gore Verbinski Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bạn có tin nhắn mới ( thay đổi gần đây). Gore Verbinski Gore Verbinski năm 2004 Sinh Gregor Verbinski16 tháng 3, 1964 (58 tuổi)Oak Ridge, Tennessee, Hoa Kỳ Trường lớp UCLA Film School Nghề nghiệp Đạo diễn phim, biên kịch, nhà sản xuất, nhạc sĩ

Gregor ‘Gore’ Verbinski (sinh ngày 16 tháng 3 năm 1964) là một đạo diễn phim, nhà biên kịch, nhà sản xuất và nhạc sĩ người Mỹ. Ông được biết đến nhiều nhất vì đã đạo diễn 3 phần của loạt phim Cướp biển vùng Caribbean, Vòng tròn định mệnh, và Rango. Verbinski tốt nghiệp trường Điện ảnh, Phim và Truyền hình UCLA. Bộ phim gần đây nhất của ông, A Cure for Wellness, được phát hành vào năm 2017. Verbinski đã giành được Giải Oscar cho phim hoạt hình hay nhất vào năm 2012 cho bộ phim hành động-hài hước Rango. Với tổng doanh thu toàn cầu của các bộ phim của ông lên tới 3,72 Tỷ đô la Mỹ, Verbinski lọt vào danh sách 10 đạo diễn phim có doanh thu cao nhất thế giới.



Mục lục 1 Niên thiếu 2 Sự nghiệp âm nhạc 3 Sự nghiệp điện ảnh 4 Các dự án khác 5 Video ca nhạc 6 Phim chiếu rạp 7 Tham khảo 8 Liên kết ngoài Niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Verbinski được sinh ra tại Oak Ridge, Tennessee, là con thứ 3 trong 5 người con của Leurette Ann (McGovern) và Victor Vincent Verbinski, một nhà vật lý hạt nhân.[1][2] Cha ông là người Ba Lan.[3]

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu Verbinski đã hoạt động trong vài ban nhạc rock L.A.. Ông đã chơi trong đã chơi trong Daredevils, Bulldozer, The Drivers, The Little Kings, và ban nhạc siêu sao The Cylon Boys Choir.

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim đầu tiên của ông là một loạt phim nhựa 8 mm tên ‘The Driver Files’ năm 1979, khi ông là một thiếu niên trẻ tuổi. Ông bắt đầu sự nghiệp bằng việc đạo diễn video ca nhạc cho các nhóm như Vicious Rumors, Bad Religion, NOFX, 24-7 Spyz và Monster Magnet, làm việc tại Palomar Pictures. Verbinski chuyển từ video ca nhạc sang quảng cáo, khi ông làm việc cho nhiều nhãn hàng bao gồm cả Nike, Coca-Cola, Canon, Skittles và Hãng hàng không Hoa Kỳ. Một trong những quảng cáo nổi tiếng nhất của ông là cho Budweiser, với những con ếch kêu tên thương hiệu. Với nỗ lực của mình ở quảng cáo, Verbinski giành 4 giải Clio và một giải Sư tử bạc Quảng cáo Cannes.

Sau khi hoàn thành bộ phim ngắn The Ritual (mà ông vừa viết kịch bản kiêm đạo diễn), Verbinski thực hiện bộ phim điện ảnh đầu tiên của ông mang tên MouseHunt. Bộ phim tạo nên một cơn sốt toàn cầu, và không lâu sau đó ông nối tiếp sự thành công của mình với bộ phim hành động hài hước The Mexican, với sự tham gia của Julia Roberts và Brad Pitt. Bộ phim nhận được nhiều đánh giá khác nhau, và thể hiện khiêm tốn khi chiếu rạp, với doanh thu nội địa chỉ 68 triệu đô la Mỹ, khá ít nếu so với sự nổi tiếng của những ngôi sao tham gia phim (về lý thuyết thì bộ phim đã thành công vì kinh phí làm phim khá thấp, 38 triệu đô la Mỹ). Verbinski tiếp tục với việc làm lại bộ phim kinh dị Vòng tròn định mệnh (2002), thành công lớn trên toàn thế giới khi thu về hơn 200 triệu đô la Mỹ. Verbinski cũng đạo diễn một phần Cỗ máy thời gian năm đó, tạm thời thay cho Simon Well. Verbinski đạo diễn một số phân cảnh dưới lòng đất Morlock và được ghi Cảm ơn ở thông tin phim. 

See also  Giảm tỷ lệ protein thô khẩu phần giúp giảm chi phí thức ăn

Sau đó, ông đạo diễn bộ phim rất thành công, Cướp biển Caribbean: Lời Nguyền tàu Ngọc Trai Đen, kiếm được hơn 600 triệu đô la Mỹ tại các rạp toàn cầu. Đây là hợp tác đầu tiên của ông với nhà sản xuất Jerry Bruckheimer, người mà kể từ đó ông đã hợp tác cùng trong nhiều bộ phim khác. Bộ phim tiếp theo của ông là The Weather Man, với sự tham gia của Nicolas Cage. Bộ phim nhận được nhiều nhận xét khác nhau và những phê bình tích cực, nhưng lại là một thất bại phòng vé. Tháng 3 năm 2005, ông bắt đầu quay phần tiếp theo Cướp biển vùng Caribbean 2: Chiếc rương tử thầnvà Cướp biển vùng Caribbean: Nơi tận cùng thế giới. Bộ phim đầu trở thành thành công lớn nhất cho đến giờ của ông, là bộ phim thứ 3 cho tới nay giành được hơn 1 tỷ đô la Mỹ tiền vé trên thế giới. Verbinski cũng đã được chọn làm đạo diễn bộ phim cho Universal Pictures, dựa trên trò chơi điện tử BioShock.[4] Verbinski sau đó đã được thay thế bởi Juan Carlos Fresnadillo, nhưng cuối cùng thì dự án phim đã bị hủy.[5]

Vào năm 2011 và 2013, Verbinski đào sâu hơn vào thể loại phương Tây, với nhiều kết quả khác nhau: bộ phim Rango được đón nhận tích cực, cả trong giới phê bình lẫn công chiếu thương mại, và giành được Giải Oscar cho phim Hoạt hình hay nhất. Ngược lại, bộ phim The Lone Ranger làm lại cho phiên bản radio nổi tiếng những năm 1930, thì lại không thành công. Dự án phim đã mắc kẹt trong nhiều năm, bị viết lại kịch bản, cắt giảm ngân sách[6][7] và đã có tranh cãi xung quanh việc chọn Johnny Depp đóng vai nhận vật người thổ dân Mỹ Tonto. Bộ phim thu về 260 triệu đô la so với 215-225 triệu ngân sách, cộng với ước tính khoảng 150-160 triệu đô la dành cho chiến dịch quảng bá.[6] Cùng năm đó, ông cũng là giám đốc sản xuất của bộ phim The Secret Life of Walter Mitty đạo diễn bởi Ben Stiller.

See also  Nhiễm trùng thần kinh là gì?



Ông đã được công bố là người sản xuất và đạo diễn phần làm lại của bộ phim Clue, dựa trên board game.[8] Dự án tương lai của ông là bộ phim Light House: A Trifle, chuyển thể từ tiểu thuyết của William Monahan, một câu chuyện về một nghệ sĩ chạy trốn khỏi Mafia, ẩn nấp trong một ngọn hải đăng, nơi có những nhân vật kỳ lạ sinh sống. Ông cũng sẽ đạo diễn phim Butterfly, một bộ phim tâm lý kinh dị về một người đàn ông cố gắng làm vợ mình phát điên. Steve Carell được chọn đóng phim.

Các dự án khác[sửa | sửa mã nguồn]

Verbinski đã tham gia vào Matter, một trò chơi điện tử bối cảnh tương lai phát triển bởi Xbox 360 sử dụng Kinect. Trò chơi được công bó tại E3 2012, nhưng Verbinski sau đó xác nhận rằng trò chơi đã bị hủy.

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn] NOFX – ‘S&M Airlines’ (1989) Vicious Rumors – ‘Don’t Wait for Me’ (1990) Vicious Rumors – ‘Children’ (1991) 24-7 Spyz – ‘Stuntman’ (1992) Bad Religion – ‘Atomic Garden’ (1992) Bad Religion – ‘American Jesus’ (1993) Bad Religion – Bad Religion Bad Religion – ‘Stranger than Fiction’ (1994) Monster Magnet – ‘Negasonic Teenage Warhead’ (1995) The Crystal Method – ‘Born Too Slow’ (2004) Phim chiếu rạp[sửa | sửa mã nguồn] Năm Tiêu đề Đề cử Oscar Thắng giải Oscar Điểm Rotten Tomatoes 1997 MouseHunt 43% 2001 The Mexican 56% 2002 Cỗ máy thời gian (không được ghi danh) 29% Vòng tròn định mệnh 72% 2003 Cướp biển vùng Caribbean: Lời nguyền tàu Ngọc Trai Đen 5 79% 2005 The Weather Man 58% 2006 Cướp biển Caribbean: 4 1 54% 2007 Cướp biển vùng Caribbean: Nơi tận cùng thế giới 2 45% 2011 Rango 1 1 87% 2013 The Lone Ranger 2 31% 2016 A Cure For Wellness 40% Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn] ^ Cinema Odeon – Pirates of the caribbean: dead man’s chest Lưu trữ 2011-09-30 tại Wayback Machine. ^ http://www.legacy.com/obituaries/utsandiego/obituary.aspx?n=victor-vincent-verbinski&pid=3032762 ^ Gazeta Wyborcza – internetowe wydanie. ^ The Cut Scene – Video Game Blog by Variety: Gore Verbinski talks about directing the Bioshock movie Lưu trữ 2008-05-10 tại Wayback Machine. ^ Robinson, Martin (ngày 12 tháng 3 năm 2013). “Ken Levine personally killed off the BioShock film – here’s why”. Eurogamer. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2013. ^ a b Graser, Marc (ngày 25 tháng 6 năm 2013). “Disney, Bruckheimer See ‘Lone Ranger’ as New Genre-Bending Superhero”. Variety. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. The picture cost approximately $250 million to produce, and more than $150 million to market and distribute around the globe… Pre-production was halted until the filmmakers could wrangle the cost down to a more manageable $215 million… Despite all the strife over the budget, the ultimate cost of ‘The Lone Ranger’ ballooned during production. Bruckheimer says he and Disney were responsible for covering the film’s overages. Studio reps say the pic cost around $225 million, but sources say it was considerably higher. ^ Karger, Dave (ngày 13 tháng 8 năm 2011). “Disney halts Johnny Depp’s ‘Lone Ranger’”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013. ^ Michael Fleming (ngày 24 tháng 2 năm 2009). “Gore Verbinski to develop ‘Clue’”. Variety. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. Đã định rõ hơn một tham số trong |author= và |last= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |author= và |last= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |author= và |last= (trợ giúp) Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện truyền tải về Gore Verbinski. Gore Verbinski trên Internet Movie Database x t s Giải Oscar cho phim hoạt hình hay nhất Thập niên 2000 Shrek – Aron Warner (2001) Sen và Chihiro ở thế giới thần bí – Miyazaki Hayao (2002) Đi tìm Nemo – Andrew Stanton (2003) Gia đình siêu nhân – Brad Bird (2004) Wallace & Gromit: The Curse of the Were-Rabbit – Nick Park và Steve Box (2005) Happy Feet – George Miller (2006) Chuột đầu bếp – Brad Bird (2007) WALL-E – Andrew Stanton (2008) Vút bay – Pete Docter (2009) Thập niên 2010 Câu chuyện đồ chơi 3 – Lee Unkrich (2010) Rango – Gore Verbinski (2011) Công chúa tóc xù – Mark Andrews và Brenda Chapman (2012) Nữ hoàng băng giá – Chris Buck, Jennifer Lee và Peter Del Vecho (2013) Biệt đội Big Hero 6 – Don Hall, Chris Williams và Roy Conli (2014) Những mảnh ghép cảm xúc – Pete Docter và Jonas Rivera (2015) Phi vụ động trời – Byron Howard, Rich Moore, và Clark Spencer (2016) Coco – Lee Unkrich và Darla K. Anderson (2017) Người Nhện: Vũ trụ mới – Bob Persichetti, Peter Ramsey, Rodney Rothman, Phil Lord và Christopher Miller (2018) Toy Story 4 – Josh Cooley, Jonas Rivera và Mark Nielsen (2019) Thập niên 2020 Cuộc sống nhiệm màu – Pete Docter và Dana Murray (2020) Encanto: Vùng đất thần kỳ – Jared Bush, Byron Howard, Yvett Merino và Clark Spencer (2021) Tiêu đề chuẩn BNF: cb14143454g (data) CANTIC: a11379534 GND: 134011864 ISNI: 0000 0000 7841 1791 LCCN: no00002308 MBA: dc3ef6a4-ee5b-485b-a522-365d4359849a NKC: js20060804035 NLK: KAC201102650 NLP: A19787960 NTA: 173459633 PLWABN: 9810551654305606 SELIBR: 272425 SNAC: w6tt5mrr SUDOC: 079491197 VIAF: 84252751 WorldCat Identities: lccn-no00002308 Lấy từ “ https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gore_Verbinski&oldid=67513511” Thể loại: Sinh năm 1964 Đạo diễn điện ảnh Mỹ Đạo diễn video âm nhạc Mỹ Người Mỹ gốc Ba Lan Phim và người giành giải Annie Nhân vật còn sống Thể loại ẩn: Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback Lỗi CS1: tham số thừa Bài viết chứa nhận dạng BNF Bài viết chứa nhận dạng CANTIC Bài viết chứa nhận dạng GND Bài viết chứa nhận dạng ISNI Bài viết chứa nhận dạng LCCN Bài viết chứa nhận dạng MusicBrainz Bài viết chứa nhận dạng NKC Bài viết chứa nhận dạng NLK Bài viết chứa nhận dạng NLP Bài viết chứa nhận dạng NTA Bài viết chứa nhận dạng PLWABN Bài viết chứa nhận dạng SELIBR Bài viết chứa nhận dạng SNAC-ID Bài viết chứa nhận dạng SUDOC Bài viết chứa nhận dạng VIAF Bài viết chứa nhận dạng WORLDCATID

See also  Penguin là gì?

Leave a Reply

Your email address will not be published.